Phải coi thế kỷ XVI và đầu thế kỷ XVII là giai đoạn phát triển cao nhất của nghề nuôi ong theo phương pháp thô sơ (nghề lấy mật ong rừng). Những thợ săn ong (những người đi lấy mật ong rừng hoang dại) chỉ riêng ở trang trại Leebedin – skaia (Ugozhi) ở Polexie thuộc Kive, đã khai thác được tới 24 nghìn pút mật ong rừng, mà thời kỳ đó có ít nhất là một nghìn trang trại tương tự. Nhà nuôi ong nổi tiếng người Nga N.M.Vitvitski (1764 – 1863) xác nhận “… chỉ riêng nghề khai thác ong rừng đã có thể đem lại cho cha ông chúng ta một lượng mật và sáp đáng giá một tỷ rúp, đấy là chưa tính đến lợi nhận của ong nuôi tại nhà. Nhờ đội quân này mà chúng ta có được những giọt mật thơm lừng tinh khôi. Mật ong ứng dụng rất nhiều trong y học hay các thẩm mỹ viện làm đẹp cũng sử dụng mật ong để chăm sóc da cho khách hàng. Sau đó, cũng chẳng có gì đáng ngạc nhiên là trước đây không lâu, nước Nga nổi tiếng về maatjong ở nước ngoài và được gọi là nguồn mật.
Bài viết tôi đã đọc nói về bầy ong mật là những kiến trúc sư giỏi toán vì đã biết xây tổ theo hình lăng trụ sáu góc và nối những đáy lại theo ba hình thoi, sao cho có thể chứa được một khối lượng mật cho sẵn mà không tốn phí vật liệu là sáp ong. Vậy có thể xem một bầy ong là một công ty kiến trúc tuyệt vời vậy.
Bài viết tôi đã đọc nói về bầy ong mật là những kiến trúc sư giỏi toán vì đã biết xây tổ theo hình lăng trụ sáu góc và nối những đáy lại theo ba hình thoi, sao cho có thể chứa được một khối lượng mật cho sẵn mà không tốn phí vật liệu là sáp ong. Vậy có thể xem một bầy ong là một công ty kiến trúc tuyệt vời vậy.
Thời gian đó, ở nước Nga thường gặp những làng, xóm nhân dân chỉ chuyên làm nghề kiếm mật ong rừng. Năm 1525, nhà sử học nỏi tiếng Paven Iovi Novokomski đã viết về đát vùng Maxcova như sau “…Hoa lọi về sáp và mật ong là chắc chắn nhất. Vì rằng khắp đất nước tràn ngập những đàn ong sinh sôi nảy nở nhanh chóng và chúng sản xuất ra một thứ mật hảo hạng”. Và tiếp theo: “ở khắp các khu rừng lớn và rừng nhỏ rậm rạp, trên các cành cây có thể thấy nhiều đàn ongđông đức treo lơ lửng, và để khai thác chúng hoàn toàn không cần phải có tiếng kẻng đồng. Người ta hay tìm thấy vô số những tầng ong giấy kin trong cây và mật cũ ong bỏ lại bởi vì những người dân thưa thớt hoàn toàn không đi tìm từng cây một trong khu rừng rộng lớn, cho nên ở các hốc cây rất sâu, có khi họ phát hiện ra hang hố mật lớn.
Tuy nhiên ngay từ thế kỷ thứ XVII, giá trị kinh tế của nghề khai thác ong rừng bắt đầu giảm. Nguyên nhân chính là việc chặt rừng đã tăng do nhu cầu cảu xây dựng. Như vậy là ong rừng đã bị mật một nguồn thức ăn phong phú nhất. Sự phát triển cua công nghiệp cất rượu mạnh và đặc biệt là công nghệp sản xuất đường cũng làm cho nghề khai thác ong rừng giảm sút một cách đáng kể. Đường đã trở thành vật cạnh tranh mạnh nhất của mật ong. Những cây nông nghiệp mới như khoai tây, củ cải đường đã xuất hiện, phủ kín một diện dích đồng ruộng khổng lồ, làm các đồng cỏ cho mật bị thu nhỏ lại nhiều. Sự phát triển của công nghiệp đường và việc sản xuất ra một lượng lớn mật nước cũng làm cho nghề khai thác ong rừng bị giảm sút.
Trong điều kiện mới, ngành nuôi ong chỉ có thể phát triển được trên cơ sở những phương pháp khác, có năng xuất cao. Nhà nuôi ong tài năng người Ukraina Piotr Ivanovich Prokopovich đã có vai trò to lớn trong việc phát triển nghề nuôi ong có năng xuất cao ở Nga. Năm 1824 ông ta đã sang chế ra chiếc thùng ong có cầu tháo lặp được đầu tiên. Sáng chế đó hợp lý hóa kỹ thuật nuôi ong, làm cho hiệu suất và thua nhập tăng lên đáng kể.
May in mau | khong gian dep
May in mau | khong gian dep
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét